Trang chủ
Giới thiệu
Thông tin khoa học
Tin tức sự kiện về MT & PTBV
Thư viện - Tư liệu
Tạp chí ấn phẩm
Hoạt động khoa học
Các văn bản chính sách về MT&PTBV
Tư vấn chính sách
Đào tạo
Hợp tác trong nước và Quốc tế
Một số vấn đề môi trường bức xúc trong nông nghiệp và phát triển nông thôn

                                                                                                                               Nguyễn Song Tùng

Việt Nam hiện có hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tổng sản phẩm khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2007 theo giá thực tế đạt 231.282 tỷ đồng, chiếm 20,23% trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân (sản xuất nông nghiệp 15,18%; lâm nghiệp 1,05% và thuỷ sản đạt 4%), xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2007 tăng mạnh so với năm 2006. Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 12,5 tỷ USD, tăng 20,6% so với năm 2006 (nông, lâm sản 8,7 tỷ USD, thuỷ sản 3,8 tỷ USD), vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 1,5 tỷ USD. Các hoạt động của ngành đã góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, xóa đói giảm nghèo tại nhiều địa phương.
Cùng với sự phát triển, hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đã gây ra nhiều tác động đến môi trường. Việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật chưa đúng kỹ thuật đã gây tồn dư nhiều hóa chất độc hại trong môi trường đất và môi trường nước; nhiều vùng chăn nuôi tập trung, nhiều làng nghề sản xuất chưa có hệ thống thu gom và xử lý chất thải; việc khai thác nguồn lợi thủy sản không hợp lý đã ngày càng làm cạn kiệt nguồn lợi; phát triển nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch dẫn đến ô nhiễm môi trường...  Mặt khác, các vấn đề môi trường cũng tác động không nhỏ đến sản xuất của ngành. Thời tiết diễn biến phức tạp, vụ Đông xuân ở miền Bắc ấm bất thường, hạn hán, bão lũ lụt, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, sâu bệnh cây trồng phát sinh trên diện rộng; nhiều vùng nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường ...
1.1. Trong trồng trọt:
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt (GTSXTT) liên tục tăng trưởng qua các năm, chỉ tính từ 2001-2007 GTSXTT tăng từ 92.907 tỷ đồng (8,45 tỷ USD) lên 114.333 đồng (10,39 tỷ USD) với mức tăng bình quân 3,5%/năm (toàn ngành nông nghiệp 4,2%/năm) theo hướng đẩy mạnh sản xuất nông sản hàng hóa, có giá trị và hiệu quả cao; điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý nhằm hạn chế những thiên tai do những bất thuận của thời tiết, sâu bệnh, ổn định diện tích gieo trồng và sản lượng nông sản do vậy đến năm 2007 giá trị xuất khẩu của 8 mặt hàng nông sản (gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, hạt điều, rau quả, lạc) đạt hơn 6 tỷ USD. Tuy nhiên, lại nẩy sinh một số vấn đề môi trường sau:
- Phân bón khi sử dụng sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp cũng như làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng. Theo ước tính năm 2007, có khoảng 60-65% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ (tương ứng với 1,77 triệu tấn urê, 55- 60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng).
- Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng ngày càng gia tăng, trong đó có rất nhiều thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc xuất xứ, trôi nổi trên thị trường. Đến tháng 8 năm 2007, lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu phải tiêu hủy 152 tấn. Từ năm 1991 đến năm 2000, khối lượng thuốc BVTV được nhập khẩu và sử dụng biến động từ 20.000 - 30.000 tấn thành phẩm quy đổi, lượng sử dụng trên một đơn vị diện tích từ 0,67 - 1,0 kg ai/ha. Từ năm 2000 đến nay khối lượng nhập khẩu và sử dụng ở Việt Nam tăng từ 33.000 đến 75.000 tấn. Việc lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, sử dụng tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm. Một thực trạng đáng lưu ý là xu hướng của người dân thích sử dụng các loại thuốc rẻ tiền, công dụng mạnh, nhưng không quan tâm đến an toàn.
Lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm.
Việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật làm cho sâu bệnh quen thuốc gây ra hiện tượng kháng thuốc BVTV, mặt khác do sử dụng nhiều loại thuốc BVTV làm cho các loài sinh vật có ích (thiên địch) bị tiêu diệt, gây mất cân bằng sinh thái và như vậy sâu bệnh hại càng phát triển mạnh hơn và nông dân càng dùng thuốc nhiều hơn. Chất lượng môi trường nước, đất bị suy giảm, tác động xấu tới các loại động vật hoang dã. Gây độc hại cho bầu khí quyển, ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
- Thâm canh tăng vụ để gia tăng sản lượng nhưng đồng thời cũng chịu nhiều rủi do về sâu bệnh và gia tăng sự suy giảm độ mầu của đất.
1.2. Trong chăn nuôi:
Năm 2007 cả nước có 38,4 triệu gia súc, ước tính thải ra 61 triệu tấn chất thải nh¬ưng chỉ khoảng 40% số chất thải này được xử lý, còn lại thường được xả trực tiếp ra môi trư¬ờng. Số phân không được xử lý và tái sử dụng lại chính là nguồn cung cấp phần lớn các khí nhà kính (chủ yếu là CO2, N20) làm trái đất nóng lên, ngoài ra còn làm rối loạn độ phì đất, nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm đất, gây phú dưỡng và ô nhiễm nước. Chư¬a kể nguồn khí thải CO2 phát tán do hơi thở của vật nuôi (ước chừng 2,8 tỷ tấn/năm/tổng đàn gia súc thế giới).
Do không có sự quy hoạch ban đầu, nhiều xí nghiệp chăn nuôi, lò mổ, xí nghiệp chế biến thực phẩm còn nằm lẫn trong khu dân cư¬, sản xuất chăn nuôi còn nhỏ, manh mún, phân bố rải rác trong khi sản xuất nông nghiệp có lợi nhuận thấp, giá cả bấp bênh, thị trư¬ờng ít ổn định. Vì vậy, sức đầu tư vào khâu xử lý môi trư¬ờng trong chăn nuôi còn thấp. Số lư¬ợng các lò mổ đạt yêu cầu vệ sinh chỉ khoảng trên 30%. Hiện tượng giết mổ lậu, giết mổ gia súc, gia cầm bị bệnh, không qua kiểm soát giết mổ, nước thải từ các lò mổ không được kiểm soát cũng là các nhân tố tác động làm tăng ô nhiễm môi trư¬ờng.
Ô nhiễm do chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi lợn không chỉ làm ô nhiễm không khí mà còn ảnh hư¬ởng nặng tới môi trư¬ờng sống dân cư¬, nguồn nước và tài nguyên đất và ảnh hư¬ởng chính đến kết quả sản xuất chăn nuôi. Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước. Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn n¬ước,... còn khá phổ biến đã góp phần làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng đất, nước, giảm khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn.
Ô nhiễm môi tr¬ường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hư¬ởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi. Trong m¬ười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm, long móng trên gia súc đã hoành hành và đến nay chưa được khống chế triệt để. Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại Việt Nam, qua 4 năm, dịch đã tái phát 5 đợt, đã phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Bệnh đã có nhiễm sang ng¬ười, đến nay đã có 100 ng¬ười mắc và đã tử vong 46 người. Từ đầu năm 2007 đến nay đã bùng phát hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh-PRRS) trên lợn đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn tại nhiều địa phương. Tuy đến nay đã đư¬ợc khống chế nhưng diễn biến của bệnh khá phức tạp, khả năng gây dịch còn rất lớn. Dịch bệnh đã gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễm sang ng¬ười nguy hiểm như¬ bệnh cúm gia cầm, …
1.3. Trong nuôi trồng và khai thác thủy sản
Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong vòng 10 năm trở lại đây, không chỉ nuôi sông hồ, đầm phá.. mà còn tiến ra biển. Năm 2007, cả nước mở thêm 15.600 ha nuôi trồng thuỷ sản, đưa tổng diện tích đạt khoảng 1,065 triệu ha (kể cả diện tích nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với trồng lúa khoảng 65.600 ha), đạt sản lượng 2,1 triệu tấn. Do hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ yếu mang tính cá thể và ít có sự hỗ trợ cơ sở hạ tầng từ nhà nước, nên các khu vực nuôi trồng thủy sản thường không có hệ thống thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản nên người nuôi thường sử dụng kênh cấp nước và thoát nước thải chung. Do vậy, khi dịch bệnh xẩy ra, thì ảnh hưởng đến cả vùng nuôi, gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi. Từ năm 1993 trở lại đây, dịch bệnh thủy sản xẩy ra liên tục. Năm 2005 dịch bệnh đã gây thiệt hại rất lớn đến các tỉnh Nam Trung Bộ, làm suy giảm sản lượng khu vực này từ 40-60% so với cùng kỳ năm trước. Cá biệt có tỉnh như Ninh Thuận diện tích nuôi tôm bị thu hẹp còn 10% so với diện tích nuôi các loài thủy sản khác.
Nuôi trồng thủy sản có thể mang lại lợi nhuận cao, nên việc kiểm soát quy hoạch nuôi trồng thủy sản rất khó. Tại nhiều địa phương, người dân thường tự ý phá rừng ngập mặn hay chuyển đổi diện tích trồng lúa sang nuôi thủy sản, dẫn đến hủy hoại các hệ sinh thái đất ngập nước do sự suy giảm đa dạng sinh học.
Lượng chất thải trong nuôi trồng thủy sản thải ra môi trường rất lớn. Chỉ tính riêng với sản lượng cá tra năm 2006 là 576 tấn thì sẽ tạo ra gần 600 tấn chất thải.
Nghề nuôi trồng thủy sản thường chịu rủi ro cao do diễn biến thời tiết bất thường, bão lũ, lụt và ô nhiễm môi trường. Việc xả chất thải của các ngành công nghiệp khác ra các lưc vực sông, đã làm thiệt hại rất lớn cho người nuôi thủy sản (người hứng chịu lại là người nuôi thủy sản nhưng lại không được đền bù).  Điển hình là hiện tượng các bè cá chết hàng loạt trên lưc vực sông Đồng Nai, Lưu vực sông Thị Vải, ngao chết hàng loạt tại Bến Tre do ô nhiễm dầu...
Nghề khai thác thủy sản đang gặp khó khăn do nguồn lợi gần bờ có biểu hiện cạn kiệt, trữ lượng hải sản ở vùng biển xa bờ chưa được đánh giá đầy đủ. Công tác dự báo nguồn lợi hải sản khu vực xa bờ đến nay mới chỉ bắt đầu. Hiện tượng vi phạm các quy định của Nhà nước trong khai thác thuỷ sản vẫn còn xẩy ra ở nhiều nơi. Đáng kể là dùng ánh sáng đèn có cường độ quá lớn, xung điện, chất độc, chất nổ, lưới cào “tầu bay”…để đánh bắt cá; khai thác vào mùa vụ cấm, không tuân thủ đúng quy định về mắt lưới và loại nghề cho phép dẫn đến tình trạng nguồn lợi hải sản bị giảm sút, một số loài hải sản quý hiếm có nguy cơ cạn kiệt và tuyệt chủng.
Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản gặp rất nhiều khó khăn do số lượng cán bộ và phương tiện có hạn, mặt khác các hình thức xử phạt vi phạm hành chính còn nhẹ chưa có tính răn đe. Công tác phục hồi và bảo tồn nguồn lợi mới ở bước đầu, hiện chưa có một khu bảo tồn mang tính quốc gia nào được thiết lập, kể cả các khu bảo tồn biển.
Chế biến thủy sản: Cả nước hiện có 470 doanh nghiệp chế biến quy mô công nghiệp, chủ yếu là chế biến thủy sản đông lạnh. Trong quá trình sản xuất, chế biến thủy sản có sử dụng nhiều nguyên liệu thuỷ sản, nước, nhiên liệu, năng lượng, hoá chất tẩy rửa, khử trùng, môi chất lạnh.. dẫn đến lượng chất thải rắn, nước thải, khí thải sinh ra nhiều, đặc biệt là nước thải hữu cơ gây ô nhiễm môi trường.
 Trong các loại chất thải, nước thải trong chế biến thủy sản có hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ rất cao. Các chỉ tiêu BOD5, tổng Nitơ và  Coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ vài lần, đến hàng trăm lần. Theo kết quả điều tra phân tích các thành phần nước thải tại 184 cơ sở chế biến thủy sản, trong 2 năm 2006 và 2007, thì có tới 90% các nhà máy đang gây ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau. So sánh đối chiếu với Thông tư 07/2007/TT-BTN&MT về phân loại cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thì có 93/184 cơ sở được xếp loại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
1.4 Lâm nghiệp
- Phá rừng: Trong những năm qua, lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi làm thiệt hại cả sinh mạng người và của cải vật chất là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, của nạn chặt phá rừng. Một số hoạt động phát triển kinh tế thiếu cân nhắc như phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, chặt rừng để trồng cây công nghiệp như: cao su, cà phê làm cho hậu quả thiên tai ngày càng nặng nề hơn, các yếu tố môi trường sống ngày một xấu đi. Dưới đây là diễn biến tình hình phá rừng, khai thác trái phép và diện tích bị thiệt hại qua các năm:

Bảng 8. Diễn biến về tình trạng phá rừng
Nội dung            2001           2002          2003         2004        2005       2006        2007       2008        Tổng cộng
Số vụ phá rừng 12295          11438         9732         8363        8040       5929       8632        5808           70.237
Diện tích thiệt hại (ha) 8.251 6.633         4.436         3.661        8.828      8449       1784        1651          43.693

- Khô hạn, sa mạc hoá và thoái hoá vật lý đất: Số liệu của văn phòng điều phối công ước chống sa mạc hóa (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha đang chịu tác động mạnh bởi quá trình hoang mạc hóa bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa, đụn cát và bãi cát di động tập trung ở các tỉnh miền Trung. Do hậu quả của việc chặt phá rừng, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ nên đất đai bị thoái hoá về mặt vật lý (đất chai lỳ, khô cứng, tầng mặt bị bóc mòn hoặc kết cấu rời rạc, ở các tầng dưới hiện tượng chặt dính, kết von tăng) do đó cây cối khó có khả năng tái sinh nên nguy cơ hoang mạc hoá cao.
- Cháy rừng: Việt Nam có nhiều loại rừng dễ bị cháy trong mùa khô như rừng khộp Tây Nguyên, rừng tràm ở một số tỉnh phía Nam, rừng thông và một số loài cây rừng trồng khác. Những năm gần đây do công tác phòng chống cháy rừng làm tốt hơn nên diện tích rừng bị cháy hàng năm không nhiều. Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm Lâm, từ năm 1995 đến nay trung bình mỗi năm rừng bị thiêu huỷ khoảng 5.000 ha. Đặc biệt năm 1998, do ảnh hưởng của hiện tượng El-Ninô, nắng hạn gay gắt nên tổng số vụ cháy rừng trên cả nước tới 1.681 vụ với diện tích rừng bị cháy: 20.357 ha. Năm 1999 diện tích rừng bị cháy giảm 15 lần, năm 2000 giảm 20 lần. Sau đây là bảng thống kê số vụ cháy và diện tích rừng bị thiệt hai:

Năm                                         Số vụ cháy (vụ)                    Diện tích thiệt hại (ha)                 Ghi chú
2001                                                490                                          2.466 
2002                                             1.098                                        15.404                      Rừng tràm U Minh
2003                                             1.158                                         1.785 
2004                                                899                                         5.563 
2005                                              1165                                         5.114 
2006                                                475                                         1.535 
2007                                                792                                         2.328 
Sáu tháng đầu năm 2008                  232                                            960 
1.5 Làng nghề và môi trường nông thôn
Vấn đề ô nhiễm làng nghề và nông thôn đang ngày càng trở nên nổi cộm, hiện đã có nhiều dự án hỗ trợ chuyển giao của các tổ chức trong và ngoài nước cho việc xử lý ô nhiễm làng nghề, bảo đảm vệ sinh môi trường vùng nông thôn nhưng thực tế ô nhiễm vẫn ngày càng trở nên nghiêm trọng với diện ngày càng rộng. Cả nước hiện có hơn 1450 làng nghề, trong đó riêng đồng bằng sông Hồng có 800 làng nghề. Đa số các làng nghề bị ô nhiễm bởi chất thải sản xuất, bụi, khí độc, cặn bã, nước thải xả ra trong quá trình sản xuất được thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm cục bộ, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Bảo đảm vệ sinh môi trường trong nông thôn còn yếu, chưa kiểm soát được vấn đề ô nhiễm trong nông thôn. Tình hình xả chất thải trong sinh hoạt nông thôn và sản xuất nông nghiệp còn bừa bãi, hiện chưa có hệ thống thu gom chất thải để xử lý. Cả nước còn gần 30% dân số nông thôn chưa được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh. Số lượng làng ung thư bị phát hiện ngày càng lớn gây nhiều bức xúc trong dư luận.

 

Quay lại In nội dung Gửi e-mail
Thông tin khác:
 PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC GIẢM TỈ LỆ TỬ VONG Ở VIỆT NAM 10 NĂM QUA
 PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG TRÊN QUAN ĐIỂM TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TIỀN HẢI HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
 Phát triển bền vững nông thôn ĐB Bắc Bộ trong quá trình XD phát triển KCN
 Để nông nghiệp - nông thôn phát triển bền vững
 Nghiệm thu đề tài khoa học: “Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Xóa đói giảm nghèo, Bảo vệ tài nguyên nước”
 Nghiệm thu đề tài khoa học: "Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: Xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, bảo vệ nguồn tài nguyên đất".
 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 21 ĐỊA PHƯƠNG
 TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, HIỆU LỰC THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÌ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Trang chủ      |      Giới thiệu      |      Hoạt động khoa học      |      Tư vấn chính sách      |      Thư viện      |      
Bản quyền © thuộc Viện Nghiên Cứu Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững
Địa chỉ: Số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 04 – 62730441
Website: www.iesd.gov.vn - E-mail: vass.iesd@gmail.com